Trang chủ Lịch công tác English
Skip navigation links
Quy hoạch và PT KTXH
Ngành kinh tế
Công nghiệp - Xây dựng
Nông nghiệp và PTNT
Thương mại - Dịch vụ
Văn hóa xã hội
Tài chính
- ĐCS Việt Nam
- Chính phủ Việt Nam
- Bộ Kế Hoạch Đầu Tư
- Cổng đăng ký doanh nghiệp
- Cổng Thông Tin Điện Tử HD
Cập nhật : 05/03/2012 10:01 SA 
 
PCI 2011 – Hải Dương: điểm tăng nhưng hạng chưa thăng 
Theo kết quả nghiên cứu, PCI tổng hợp của tỉnh Hải Dương năm 2011 chưa có sự cải thiện đáng kể so với năm 2010 bởi điểm số chung có tăng lên (0,9 điểm) nhưng vẫn xếp ở thứ hạng 35/63 tỉnh, thành phố trong cả nước

 Có một sự kiện không mới nhưng vẫn hấp dẫn vừa diễn ra, bởi nó trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của chính quyền các tỉnh, thành phố cùng nhiều đối tượng hữu quan - đó là việc công bố kết quả xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2011 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Đây là năm thứ bảy liên tiếp thực hiện khảo sát, được tổng hợp từ kết quả khảo sát trực tiếp 6.922 doanh nghiệp trong nước về chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) trong năm 2011.

 

Kết quả xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2011

 

Chỉ số PCI - Thực chất là gì?

Xác định Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) và VCCI do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ.

            PCI được xây dựng nhằm giúp lý giải nguyên nhân tại sao một số tỉnh, thành lại tốt hơn các tỉnh, thành khác về sự phát triển năng động của khu vực kinh tế dân doanh, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế.

            Bằng cách thực hiện điều tra các doanh nghiệp dân doanh để tìm hiểu sự đánh giá của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh ở địa phương, kết hợp dữ liệu điều tra với các số liệu so sánh thu thập được từ các nguồn chính thức về điều kiện ở địa phương, PCI cho điểm các tỉnh theo thang điểm 100. Chỉ số PCI tổng hợp của một địa phương được xác định trên cơ sở các chỉ số thành phần với những trọng số chung nhất định.

            Dẫu rằng đến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau về nội dung và phương pháp đánh giá, xếp hạng PCI, nhưng thông qua việc xếp hạng hàng năm (từ năm 2005 đến nay), Chỉ số đã có tác động tới chính quyền cấp tỉnh trong việc thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để tăng cường thu hút đầu tư, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước đang trong giai đoạn có nhiều biến động như hiện nay, khi các ngành kinh tế, các doanh nghiệp, nhà đầu tư đang đối mặt mới vô vàn khó khăn, thách thức thì dường như Chỉ số này được quan tâm hơn bởi nó được xem là “tiếng nói” của bộ phận cộng đồng doanh nghiệp đối với chính quyền cấp tỉnh, hơn nữa, vừa mới đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/12/2011, là Nghị quyết đầu tiên trong lịch sử 81 năm của Đảng, về phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 

Kết quả PCI 2011 của tỉnh Hải Dương

           

Trên bảng xếp hạng chung, Lào Cai đã chiếm ngôi đầu bảng của Đà Nẵng nắm giữ trong nhiều năm khi đạt đến 73,53 điểm (thuộc nhóm Rất Tốt) và Cao Bằng xếp cuối bảng với 50,98 điểm (hạng Tương đối thấp).

Theo kết quả nghiên cứu, PCI tổng hợp của tỉnh Hải Dương năm 2011 chưa có sự cải thiện đáng kể so với năm 2010 bởi điểm số chung có tăng lên (0,9 điểm) nhưng vẫn xếp ở thứ hạng 35/63 tỉnh, thành phố trong cả nước (cùng hạng năm 2010) và thuộc nhóm xếp hạng Khá (58,41 điểm);

            Xét trong Vùng đồng bằng sông Hồng, Hải Dương đứng ở vị trí khá khiêm tốn, không kể 2 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng thì xếp thứ 6/9 tỉnh, cũng bằng hạng năm 2010 và 2006;

            Việc xem xét vị trí của Hải Dương trong “bản đồ PCI” của Vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước cũng như so với năm trước (2010) sẽ cho thấy rõ hơn, toàn diện hơn sự chuyển động của PCI Hải Dương 2011 trong từng chỉ số thành phần. Cụ thể như sau:

            (1) Chi phí gia nhập thị trường: (thể hiện thời gian hoàn thành các thủ tục và giấy tờ cần thiết để doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động).

            Năm 2011, tỉnh đạt 8,26 điểm (ở vị trí 7/9 tỉnh trong Vùng; thứ 48/63 tỉnh, thành phố trong cả nước), năm 2010 đạt 6,51 điểm (6/9; 38/63); Đây là chỉ số tăng điểm nhiều nhất nhưng lại có xếp hạng không cao do có nhiều tỉnh có mức tăng điểm số nhanh hơn.

 (2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: (xác định mức độ khó khăn trong việc giải quyết vấn đề đất đai cho hoạt động kinh doanh và mức độ ổn định về sử dụng đất trong quá trình kinh doanh).

Với điểm số 6,06 điểm (7/9; 45/63), năm 2011 đã có sự tăng nhẹ về điềm nhưng lại tụt về thứ hạng so với năm trước, năm 2010 đạt 5,94 điểm (5/9; 37/63).

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: (xác định khả năng tiếp cận các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh và mức độ tham gia của DN vào các chính sách mới liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp).

Năm 2011, tỉnh đạt 4,97 điểm (8/9; 58/63), năm 2010 đạt 5,37 (8/9; 49/63); Đây là chỉ số được điểm số thấp, sụt giảm hơn năm trước. Đây là chỉ số có trọng số cao (20%) nên ảnh hưởng lớn đến kết quả xếp hạng chung của tỉnh trong thời gian qua.

            (4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: (xác định thời gian DN phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và mức độ thường xuyên doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động kinh doanh để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra).

Đây được xem là chỉ số có nhiều cải thiện trong năm qua và đã có vị trí xếp hạng khá trong Vùng cũng như cả nước. Năm 2011, tỉnh đạt 7,13 điểm (4/9; 18/63), năm 2010 đạt 6,68 điểm (8/9; 23/63);

(5) Chi phí không chính thức: (xác định các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do các chi phí này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp).

Về chỉ số này, năm 2011 tỉnh đạt 7,46 điểm (xếp thứ 3/9 tỉnh trong Vùng; thứ 21/63 tỉnh, thành trong cả nước) trong khi năm 2010 đạt 6,24 điểm (3/9; 33/63). Đây cũng là chỉ số tiếp tục có sự cải thiện và có vị trí cao trong Vùng.

(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: (xác định sự năng động, sáng tạo của những người lãnh đạo cấp tỉnh trong quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế diễn ra trên địa bàn tỉnh).

Năm 2011, chỉ số này đạt 4,85 điểm (5/9; 27/63), là chỉ số có điểm số ở mức trung bình, nhưng vẫn có sự tiến bộ hơn trong xếp hạng chung cả nước, năm 2010 đạt 5,06 điểm (5/9; 36/63)

(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: (đánh giá các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như xúc tiến thương mại và hội chợ/triển lãm thương mại; cung cấp thông tin thị trường; tư vấn về thông tin pháp luật; hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh; các dịch vụ liên quan đến công nghệ).

Điểm số chỉ số này trong năm 2011 là 4,30 điểm (3/9; 15/63). Tuy điểm số giảm nhưng đây lại là Chỉ số có thứ hạng tốt nhất của tỉnh trong hệ thống các chỉ số thành phần cấu thành PCI, năm 2010 đạt 6,22 điểm (3/9; 18/63).

            (8) Đào tạo lao động: (đánh giá nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng người lao động nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giải quyết vấn đề lao động và giúp người lao động tìm kiếm việc làm).

Cụ thể năm 2011, chỉ số này được 4,44 điểm (8/9; 48/63) và năm 2010 đạt 5,27 điểm (8/9; 37/63). Đây là chỉ số có điểm và thứ hạng giảm, thấp. Điều đáng chú ý là đây lại là một trong hai chỉ số có trọng số cao nhất (20%) nên ảnh hưởng rất lớn đến kết quả xếp hạng chung của Hải Dương trong những năm qua.

(9) Thiết chế pháp lý: (là chỉ số thành phần đánh giá lòng tin của doanh nghiệp với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh và mức độ hiệu quả của thiết chế pháp lý này trong việc giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nại của doanh nghiệp với các hành vi nhũng nhiễu của công chức tại địa phương).

Chỉ số này có tăng điểm nhưng không có sự cải thiện thứ hạng khi năm 2011 đạt 5,23 điểm (5/9; 45/63) và năm 2010 đạt 4,62 điểm (5/9; 40/63).

Nhìn chung, mặc dù PCI của tỉnh năm 2011 đã có sự cải thiện về điểm số nhưng vẫn chưa đạt được thứ hạng mong muốn bởi nó chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh (như vị trí xếp hạng Chỉ số Cơ sở hạ tầng PCI 2011 của tỉnh rất cao, thứ 9/63 tỉnh, thành phố cả nước,…).

 

… Vấn đề đặt ra

            Tuy nhiên, từ xếp hạng PCI 2011 của tỉnh Hải Dương phần nào cho thấy kết quả những nỗ lực của tỉnh trong cải thiện môi trường kinh doanh thời gian qua (như đã phê duyệt và thực hiện công khai bộ Thủ tục hành chính; tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh; nhiều quy định, cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp được ban hành; xây dựng, thực hiện Đề án Cải thiện môi trường đầu tư trong khuôn khổ triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội  Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; có cả nghiên cứu chuyên sâu về PCI của tỉnh,…), đồng thời gợi mở trọng tâm đổi mới hoạt động trong thời gian tới, đó là cần phải thực hiện hệ thống giải pháp nhằm vào những chỉ số thành phần có thứ hạng thấp như Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Đào tạo lao động; Tính năng động của lãnh đạo tỉnh và những chỉ số thành phần có xu hướng giảm, bao gồm Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Chi phí gia nhập thị trường.

Với điều kiện tự nhiên, hạ tầng thuận lợi, chúng ta cần phát huy được lợi thế so sánh ấy, cùng với đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, tạo lập môi trường kinh doanh thực sự thân thiện để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh nhằm đưa kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh, bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra, mà mục tiêu chiến lược là “đến năm 2020 Hải Dương cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp”. Thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu hết sức nặng nề này đòi hỏi sự nỗ lực đồng bộ từ nhiều phía. Đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh được xem là vấn đề mang tính tổng hợp, mà trong những nhiệm vụ cụ thể cần nỗ lực phấn đấu đưa Hải Dương vào nhóm xếp hạng Tốt trên bản đồ PCI cả nước.

 

   Phan Nhật Thanh

Phòng Kinh tế ngành

Tỷ giá ngoại tệ
Giá vàng trong nước
Mua vào:
Bán ra: