Trang chủ Lịch công tác English
Skip navigation links
Giới thiệu chung
Chức năng - nhiệm vụ
Cơ cấu tổ chức
Quy chế làm việc cơ quan
Thủ tục hành chính
Tin tức - Sự kiện
Tin hoạt động ngành
Tin hoạt động sở
Kinh tế - Xã hội
Quy hoạch và PT KTXH
Ngành kinh tế
Văn hóa xã hội
Tài chính
Đầu tư
Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trong nước
Văn bản pháp lý về đầu tư
Đăng ký doanh nghiệp
Tin bài đăng ký DN
Văn bản Pháp lý ĐKDN
Mẫu biểu ĐKDN
Hỗ trợ phát triển DN
Thanh tra
Văn phòng
Cải cách hành chính
Công khai ngân sách
Phòng TC-KH cấp Huyện
Hoạt động Đoàn thể
Đảng
Công Đoàn
Đoàn thanh niên
PCI
Phổ biến pháp luật ngành Kế hoạch và Đầu tư
- ĐCS Việt Nam
- Chính phủ Việt Nam
- Bộ Kế Hoạch Đầu Tư
- Cổng đăng ký doanh nghiệp
- Cổng Thông Tin Điện Tử HD
Cập nhật : 24/07/2012 2:03 CH 
 
Hoàn thiện cơ chế hậu kiểm doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh: Minh bạch thông tin 
(baodautu.vn) Việc thiếu nguồn lực cho các kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế có thể khiến nhiều bước đi chậm lại.

Tuy nhiên, nếu tập trung cải cách thể chế, chọn những khâu cần ít nguồn lực, nhưng tạo sức đột phá mạnh, bước chuyển có thể chậm song mục tiêu tái cơ cấu sẽ đạt được một cách chắc chắn.


Đổi tư duy quản lý nhà nước

Mặc dù cơ chế tiền đăng - hậu kiểm trong quản lý doanh nghiệp (DN) sau đăng ký kinh doanh đã được khởi động từ năm 2000 (thời điểm Luật DN 1999 có hiệu lực), song phải đến tận 12 năm sau, các công cụ đảm bảo sự vận hành thuận lợi của cơ chế này mới dần được hoàn thiện.

Đặc biệt, Đề án Đổi mới quản lý nhà nước đối với DN sau đăng ký thành lập vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành đã yêu cầu hàng loạt nhóm giải pháp nhằm giải quyết tình trạng lỏng lẻo trong hậu kiểm.

Trước hết, phải nhấn mạnh mục tiêu rất rõ ràng của Đề án này là nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với DN sau đăng ký thành lập, nhằm tăng cường việc tuân thủ pháp luật và ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.

Điều đó có nghĩa là, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước buộc phải thay đổi để thích ứng với mục tiêu này, vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của DN, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với pháp luật trong nước và thông lệ quốc tế.

Như vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với DN sẽ phải dựa trên khung khổ quy định của pháp luật, chấm dứt quản lý nhà nước bằng các mệnh lệnh hành chính; tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước, nhưng không làm ảnh hưởng đến những thành quả mà cơ chế tiền đăng – hậu kiểm đã tạo được cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam, nhất là trong các bước đột phá về cải cách hành chính, nâng cao đáng kể tính nhất quán, sự minh bạch và bình đẳng của khung khổ pháp luật về kinh doanh ở nước ta

Tất nhiên, để làm được việc đó, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với DN phải được phân định rõ ràng, gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nước cụ thể. Các cơ quan nhà nước quản lý DN theo từng lĩnh vực hoạt động, kinh doanh. DN kinh doanh đa ngành, nghề chịu sự quản lý của nhiều cơ quan nhà nước, mỗi cơ quan sẽ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của DN trong từng lĩnh vực chuyên ngành tương ứng.

Như vậy, các bộ, ngành sẽ phải đổi mới rất nhiều, trong cả tư duy, cơ chế hoạt động và phối hợp để đảm bảo nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với DN sau đăng ký theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với quy định pháp luật và không chồng chéo, gây phiền hà cho DN.

Mở rộng sự tham gia của xã hội

Cùng với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, vai trò của các chủ thể khác trong hoạt động hậu kiểm đối được đặt lại vị trí, sẽ tạo nên những thay đổi mang tính bước ngoặt trong cơ chế hậu kiểm.

Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng, một mô hình khung hậu kiểm đối với DN bao gồm bảy thành tố. Đó là kiểm tra giám sát nội bộ DN; kiểm tra giám sát của chủ nợ; kiểm tra của Hiệp hội Người tiêu dùng; kiểm tra của đối thủ cạnh tranh; kiểm tra của các hội nghề nghiệp; kiểm tra giám sát của xã hội và công luận và cuối cùng mới là kiểm tra giám sát của Nhà nước.

Không những thế, cơ chế này còn tạo áp lực cho từng doanh nghiệp, buộc các DN ý thức rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình trong công bố thông tin của chính mình.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vai trò giám sát của các nhóm đối tượng trên về hoạt động của DN còn rất hạn chế. Một phần do chưa được nhận thức đúng đắn, một phần do thiếu công cụ, thông tin hỗ trợ.

Đơn cử ngay hoạt động giám sát của chủ nợ và bạn hàng vốn gắn chặt với nhau về lợi ích cũng không thực sự được đảm bảo. Nguyên do là tính minh bạch, công khai thông tin về doanh nghiệp là con nợ còn yếu, các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh không được nộp hoặc nộp không kịp thời, các thay đổi về đăng ký kinh doanh chưa được báo cáo và công bố đầy đủ, gây nhiều tác hại đến quyền lợi của chủ nợ và bạn hàng.

Hệ quả là, tình trạng khiếu kiện trong nội bộ DN do quyền lợi cổ đông không được đảm bảo tăng mạnh, DN bị lừa, “DN ma” tồn tại khá lâu, tạo nên những tác động tiêu cực không nhỏ đối với môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Hoàn thiện hệ thống thông tin doanh nghiệp

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động giám sát xã hội với DN có lý do quan trọng là thiếu nguồn thông tin có tính pháp lý, tin cậy về DN.

Chức năng cung cấp thông tin (như thông tin giá cả, thị trường trong nước và quốc tế, xúc tiến thương mại, nghiên cứu khoa học…) của cơ quan nhà nước rất hạn chế. Cộng với khả năng thu nhận, tiếp cận thông tin của từng khu vực DN còn khác nhau, đặc biệt thông tin thị trường quốc tế, luật pháp quốc tế…, dẫn tới việc minh bạch hóa thông tin thị trường đầu tư - vốn dĩ đã khó khăn ngay cả ở các thị trường đã phát triển - lại càng khó khăn hơn đối với các doanh nghiệp nước ta. 

Thực trạng Nhà nước không đủ thông tin về DN cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng hạ thấp tính hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước đối với DN. Cho đến nay, cơ quan quản lý nhà nước và các bên có lợi ích liên quan chưa có được hệ thống thông tin DN đầy đủ, cập nhật và có thể truy cập cả ở Trung ương và địa phương. Phương thức hình thành, quản lý và cung cấp thông tin DN chưa rõ, chưa đủ và chưa thống nhất trong cả nước; chất lượng và nội dung thông tin DN có sự khác nhau giữa các ngành, các địa phương; quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của DN có tính pháp chế thấp… là những tồn tại lớn, cần khắc phục trong quản lý nhà nước đối với DN.

Có thể thấy, phát triển hệ thống thông tin về DN trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh việc khớp nối, trao đổi trực tuyến thông tin về đăng ký DN giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh, quản lý thị trường, thuế, hải quan, thống kê, thanh tra… để làm công cụ quản lý, giám sát, xử lý vi phạm của DN cần được đưa lên hàng đầu. Bởi, nếu tình trạng thiếu thông tin về DN không được giải quyết thì ngay cả trách nhiệm tham vấn chính sách của các bộ, ngành cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Thủ tướng Chính phủ cũng đã yêu cầu các bộ, ngành liên quan khẩn trương hoàn thiện các cơ chế, chính sách và nền tảng công nghệ thông tin để Hệ thống thông tin đăng ký DN quốc gia có đủ khả năng làm đầu mối cung cấp các thông tin pháp lý về đăng ký DN; xây dựng Cổng thông tin đăng ký DN quốc gia để công bố rộng rãi dữ liệu về đăng ký DN ra cộng đồng theo quy định của pháp luật nhằm giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp trong các giao dịch về kinh tế, giúp DN hoạt động minh bạch và an toàn hơn.

Tất nhiên, đi cùng với đó là yêu cầu tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, đối thoại về quản lý nhà nước đối với DN sau đăng ký thành lập cũng như pháp luật về DN nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.

Đây cũng là trách nhiệm trong công tác hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước. Khi từng DN nắm vững pháp luật, hiểu rõ những việc họ phải tuân thủ thì công tác hậu kiểm của các cơ quan quản lý sẽ thuận lợi và có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Riêng với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan đầu mối trong quản lý đăng ký DN, phần việc phải làm đang được đặt ra cấp bách. Trước hết, là rà soát, xây dựng trình Chính phủ phương án hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về DN theo hướng: đổi mới các quy định về quản trị DN phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế; sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức lại, giải thể; tách riêng Giấy chứng nhận đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký DN, phân tách chức năng quản lý nhà nước đối với DN và quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư.

Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư theo hướng nâng các mức xử phạt vi phạm hành chính nhằm đảm bảo các chế tài xử phạt đủ tính răn đe và phù hợp với tình hình thực tiễn; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện Hệ thống Thông tin đăng ký DN quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký DN, đẩy mạnh cung cấp thông tin pháp lý về DN cho các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng DN; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng cơ chế bổ sung, cập nhật hệ thống ngành kinh tế Việt Nam đối với những ngành, nghề kinh doanh mới.

                                                                                               LÊ QUANG MẠNH

                                                   Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

 

 

Các tin mới hơn:
Các tin cũ hơn: